tu viện SeRa (Sera jey)

Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010




Khangser rinpoche chuyển thế đời thứ 8 hiện nay.








Tóm lược tiểu sử Tôn sư khangser rinpoche














Khangser rinpoche chuyển thế thứ 7



Giới thiệu sơ lược về khangser rinpoche



Là một vị đại lạt ma chuyển thế, cách sống của ngài đơn giản, ngài là một người dễ hòa đồng với mọi người, hơn thế nữa ngài luôn đem tâm từ bi, tấm lòng vị tha của một vị bồ tát tiếp xử với mọi người Lúc nào ngài cũng một lòng hướng về sự lợi ích của phật pháp và nhân loại, vì thế ngài đem tấc cả tâm huyết cộng với lý trí cực kỳ sắc bén vốn có để truyền dạy phật pháp cho thế gian, những điều ngài dạy thật thâm thúy, những kiến giải ngài đưa ra luôn có một sức thuyết phục kỳ lạ, bởi ngài luôn vận dụng trí óc siêu phàm để lý giải một cách sâu sắc không một chút mơ hồ, lối tư duy phóng khoáng ngài truyền đạt tư tưởng qua những ví dụ cụ thể, ngài khiến người nghe phải bật cười trong sự hân hoan và đầy dãy những niềm vui bất ngờ. Ngôn ngữ của ngài lúc nào cũng uyển chuyển, sống động. Những điều ngài dạy thường đi với những gì đang diễn ra trong thực tế, ngài làm người ta phải lắng nghe một cách chăm chú và ngài lại áp dụng lý trí của bản thân, biến chúng thành những công cụ đắc thủ trong việc truyền dạy tư tưởng.



không một ai thất bại, nếu họ biết được đường lối đúng đắn’’, đây là điều ngài đã từng nói. Có lẽ ngài muốn mỗi người đều có một hướng đi đúng đắn, cho nên suốt cuộc đời của ngài. Ngài luôn chau chuốt những triết lý thâm thúy trong phật pháp để có thể thực hiện được ước mơ của bao người và hàng vàng ngàn trái tim trong hàng vạn thế kỷ qua với bao nhiêu thao thức chấm dứt đi những khổ đau, những nỗi sợ kinh hoàng khi giáp mặt với cái chết, khi đối diện với những nỗi đau mất đi người thân và còn bao nhiêu điều mà chúng ta như chưa từng biết đến khi trải qua trong muôn vạn kiếp sinh tử luân hồi. Vì ta đã quên tấc cả và chẳng nhớ ra gì, đôi khi ta ngộ nhận ra rằng chẳng có gì để nhớ và chẳng có gì cần quan tâm, ta cư xử như một người mất trí và hành động như những kẻ ngu khờ. Ta không hề biết có một con nào đưa ta tới sự bình yên của tâm hồn. Tuy vậy, có những lúc ta lại ngồi một mình. Ta tự tìm mình và chẳng thấy mình ở đâu, ta tìm hoài và không biết ai đang suy nghĩ và liệu ta có phải là cái thân thể này không?



Dửng dưng khi chẳng nhận ra được điều gì? Không còn cách nào khác ta cứ để cuộc sống trôi qua, thời gian cứ trôi đi và chấp nhận lấy cái chết trong sự run sợ và cứ thế tuổi trẻ cứ qua đi không trở lại, như thế ta lại chẳng hề biết đến một con đường thiên liêng nào, rồi đây phương trời nào ta sẽ ra đi.



Có những lúc ta tự cho mình không nên tin điều gì, ta không tin nhân quả hay sự tái sanh, đầu thai. Tuy trong lòng đôi lúc cũng thoáng lên những nỗi lo sợ không biết khi chết rồi ta có còn không, nếu còn ta sẽ ra sao và sẽ ở đâu. Không biết ta làm nhiều tội lỗi và giết hại nhiều sinh vật tạo nhiều ác nghiệp như vậy ta có bị trừng phạt không . Lúc đó đôi khi ta còn khởi lên trong lòng cầu mong khi chết đi là hết, mong sao chẳng có chuyện gì xảy ra tiếp theo. Ta cố tự lừa dối mình để che dấu những tội lỗi mà ta đã gây ra, những việc ta làm ta để tự cho gió cuốn theo mây, rồi cũng đành chấp nhận số mệnh tự nó đưa đầy, bởi như thế ta có thể tự do ngoài vòng pháp luật vì muốn hay không với một lý trí của một con người bình thường, còn đầy dãy những tham đắm trần tục nên không thể chiến thắng được chính mình và dễ dàng từ bỏ bất cứ cái gì để cất bước tìm đến một con đường trong sáng mà không dễ gì mấy ai cũng nhận ra



Đôi khi ta tự cám thấy mình cần phải làm những điều lành rồi muốn đi tìm một chân lý cho cuộc đời mình nhưng vì sự tham lam đối với bản thân, ta không đủ tư tưởng hay ý trí để đi tìm một hướng đi. Ngược lại như thế ta sợ mình mất đi những gì đang có, những cuộc vui chơi, những điều ta chưa thỏa đáng. Vì thế ta để cuộc đời chôn lấp và rồi ta phải kinh hoàng khi một thời niên thiếu bước sang ngang. Tật bệnh đỗ xuống, ta chỉ có thể hối tiếc một thời đã qua, hoang man khi nghĩ tới con đường phía trước mà ta sắp sửa bước tới. Bàng hoàng, buốt lạnh khi một làng gió cuốn lấy thân ta, lúc này ta mới có thể cảm nhận ra một phần nào sự thống khổ khi không có một con đường và ngậm ngùi khi thấy được sự ngu muội của mình trong bao nhiêu năm qua. Chẳng làm được gì, ta không còn đôi bàn tay ngày nào như thời niên thiếu, rốt cuộc chuyện gì đến cũng đã xảy ra. Để tiếp tục cho một sự sống mới không gì hơn người ta phải phụ thuộc vào hên xui hay chờ đợi vào số phận.



Với nguyện ước thiêng liêng cũng như làm vơi hay chấm dứt đi bao nhiêu khổ đau bất hạnh của những người chưa từng biết đến phật pháp không gì hơn chính mỗi người phải tự dùng lý trí của chính mình để nhận ra đâu là con đường chân lý, đâu chính thực là chân sư mà mình cần phải tìm cầu học hỏi và nương tựa। Mỗi người nên tự đòi hỏi và phán xét những gì mình đang chúng kiến xảy ra। Như thế sẽ biết được mình cũng là một con người và có lý trí।





Khangser rinpoche tiều sử




Tôn sư Khangser Rinpoche pháp tự là:Tenzin Tsul Trim Palden


nghĩa là Pháp Trì Giới Hạnh Cát Tường.


Tên thường gọi là Khangser Rinpoche, nghĩa là ngôi nhà vàng kim.


Ngài sanh năm 1975


Năm 1980 được các đại Lạt Ma của Viện Phật Học Tây Tạng Sera Jey công nhận là Khangser Rinpoche chuyển thế đời thứ tám của dòng Gelug. Được biết chuyển thế đời thứ bảy của Khangser Rinpoche trước đó vốn là một trong ba vị đại trưởng lão đảm nhận trách nhiệm tìm kiếm chuyển thế của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14. Năm 1992 Khangser Rinpoche đậu bằng cử nhân (Bachelor) Triết Lý Phật Học về Kinh Bát Nhã Ba La Mật ở trường Phật Học Biện Chứng, nằm trên dãy Hy Mã Lạp Sơn, nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đang cư ngụ, thuộc tiểu bang Himachal Pradesh, miền Bắc Ấn Độ. Năm 1998 Ngài đậu bằng cao học (Master) Triết Lý Phật Học ở Viện Phật Học Tây Tạng Sera Jey được tái lập ở miền Nam Ấn Độ, một tu viện nổi tiếng trong 3 tu viện lớn nhất của dòng Gelug ở Tây Tạng được lập từ thế kỷ thứ 15. Năm 2000 Ngài được mời làm giảng sư khách ở trường đại học Tribhuwan ở Kathmandu, nước Nepal. Năm 2002, chỉ với tuổi 27 mà Ngài đã đậu bằng Tiến Sĩ Geshe Lharam cao quí, thủ khoa đứng đầu trong số năm ngàn tăng chúng ở tu viện Sera, miền Nam Ấn Độ. Năm 2002 Ngài trước tác luận chú giải Câu Xá Luận dày hơn 300 trang. Năm 2005 Ngài thi đậu với số điểm cao nhất bằng Tiến Sĩ Phật Giáo Mật Tông ở tu viện mật điển Gyuto, Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ. Năm 2007 Ngài sáng lập Cơ Sở Di Sản Văn Hóa Phật Giáo Hy Mã Lạp Sơn tại thủ đô Kathmandu, Nepal. Hiện tại Khangser Rinpoche là giảng sư giảng dạy triết lý Phật học cho hàng trăm Tỳ Kheo và Sa Di ở Viện Phật Học Tây Tạng Sera Jey. Ngài cũng giảng dạy trong các tu viện thuộc dòng Cổ Mật Nyingma và Kagyu ở Dharamsala Ấn Độ và quốc gia Nepal. Ngoài ra Rinpoche còn giảng dạy ở một số trường Đại Học ở Nam Ấn cho sinh viên Ấn Độ, Nepal và các học giả phương Tây.



Tôn Sư Khangser Rinpoche là một vị đại Lạt Ma chuyển thế, sinh ra trong một gia đình tổ tiên theo truyền thống Cổ Mật Nyingma lâu đời và tiền thân Ngài vốn là đại lạt ma dòng Gelug, cho nên Ngài thừa hưởng cả hai di sản truyền thừa qúy báu. Khangser Rinpoche tuy tuổi trẻ nhưng thông minh mẫn tiệp, tiếp thừa nhiều giáo pháp cả hiển lẫn mật trực tiếp từ các vị đại Lạt Ma của dòng phái Cổ Mật Nyingma như đại Lạt Ma Dilgo Khentsen Rinpoche, đại Lạt Ma Khechoe Sangpo Rinpoche; từ đại Lạt Ma Choe Gye Choechen Rinpoche của dòng Sakya, từ các vị đại Lạt Ma của dòng phái Gelug như Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Lati Rinpoche, Khensur Lobsang và nhiều bậc Thầy vĩ đại khác. Ngài tinh thông luận điển dòng Gelug, dòng Cổ Mật Nyingma và hấp thụ giáo pháp luyện tâm vĩ đại của dòng truyền thừa Kadampa. Ngài là bậc Thầy vĩ đại của thế kỷ thứ 21 với tâm từ bi bao la, cùng nhiệt huyết đem hạt giống thương yêu gieo rắc vào dòng tâm thức tất cả chúng sanh, là một bậc Đại Hùng Biện siêu việt.



Thế danh là: Tenzin Palden Shrestha


Sinh ngày 21 tháng 05 năm 1975. tại Kathmandu


Có Pháp Tự là: Tenzin Tsul Trim Palden. thường gọi là Khangser rinpoche.


Xuất gia và tu học tại Tu Viện Sera jey, miền nam Ấn Độ từ năm 1980. Đến năm 1992 đậu bằng cử nhân (Bachelor) trường Phật Học Biện Chứng (miền bắc Ấn Độ). Đến năm 1998 đậu bằng cao học (Master) triết lý Phật Học, tại Sera jey.



Năm 2000 được mời làm giảng sư tại Trường Đại Học Tribhuwan. Kathmandu. Nepal.



Năm 2002 đậu bằng Tiến Sĩ Geshe Lharam,thủ khoa đứng đầu trong năm nghìn tăng chúng và trước tác Luận chú giải Câu Xá Luận nổi tiếng.



Năm 2005 thi đậu với số điểm cao nhất bằng Tiến Sĩ (Phật Giáo Mật Tông) ở Tu Viện Mật Điển Gyuto, Dharamsala, niềm bắc Ấn Độ.



Năm 2007 sáng lập Cơ Sở Di Sản Văn Hóa Phật Giáo Hy Mã Lạp Sơn tại Nepal.


Và hiện là giảng viên của các trường Đại Học lớn tại Thủ Đô Nepal và niềm nam Ấn Độ. Là một học giả uyên thâm về các giáo lý của Đạo Phật। Và là giáo thọ sư của hàng nghìn tăng chúng.




Pháp hiệu của khangser rinpoche qua 8 đời


1. Khangser Rinpoche chuyển thế đời thứ nhất: Chogtu Ga We Gyalpo (Thắng Lạc Vương)


2. Khangser Rinpoche chuyển thế đời thứ hai: Choe Lu Dar Pen (Đại Phướng Pháp)


3. Khangser Rinpoche chuyển thế đời thứ ba: Shing Sa A Choe (Mộc La Hầu Pháp)


4. Khangser Rinpoche chuyển thế đời thứ tư: Losang Tharpe Gyal Tsen (Hiền Trí Giải Thoát Chiến Thắng Phướng)


5. Khangser Rinpoche chuyển thế đời thứ năm: Ngawang Tenpe Gyal Tsen (Hùng Biện Giáo Pháp Chiến Thắng Phướng)


6. Khangser Rinpoche chuyển thế đời thứ sáu: Na Kha Pa Tharpe Gyal Tsen (Nakhapa Giải Thoát Chiến Thắng Phướng)


7. Khangser Rinpoche chuyển thế đời thứ bảy: Thupten Kunga (Phật Pháp Toàn Hỷ)


8. Khangser Rinpoche chuyển thế đời hiện tại: Tenzin Tsul Trim Palden (Pháp Trì Giới Hạnh Cát Tường)








Kệ tán thán qua 7 đời chuyển thế




Trong cuốn ‘‘ Chuyển Thế Lạt Ma Tiểu Sử’’ do Viện Phật Học Tây Tạng Sera Jey ghi lại có thi kệ tán thán bảy đời chuyển thế của Khangser Rinpoche như sau:




Toàn thể đạo pháp kinh và mật của đấng chiến Thắng thần kỳ,


Lý giải cực kỳ rõ ràng không bợn nhơ,


Biện thuyết tài tình giáo pháp Đức Thích Ca, làm cho tâm trí rực sáng tràn đầy hỷ Lạc,


Thỉnh cầu bậc quân Vương của diệu ngôn.


Thanh trượng kiên cố của vô số kinh điển,


Nắm chặt vũ khí sắt bén của toàn thảy đạo lý,


Hàng phục đối phương, tập đoàn ngụy thuyết điên rồ,


Thỉnh cầu Choe Lu Dar Pen Đại Phướng Pháp.


Bậc Đại Trí Văn Thù Sư Lợi, bao trí huệ của Đấng chiến thắng thâu về một,


Biểu diễn vũ khúc hồng hoa, Tsong Kha Pa,


Mật phi tối thắng, Arya Ta Rê chân thật,


Thỉnh cầu Shing Sa A Choe Mộc La Hầu Pháp.


Bậc đạo sư, bậc kim cang bổn sư, bậc Thiên bảo vệ thoát khỏi sanh diệt luân hồi và Niết Bàn,


Đấng vô địch trang hoàng với tâm kim cang rắn chắc,


Na Kha Pa thiện thuyết giữa chốn hùm beo vẫn an trụ trong tánh khôनग và hỷ lạc,


Thỉnh cầu Tharpe Gyal Tsen Giải Thoát Chiến Thắng Phướng.


Bất nhẫn trước cõi luân hồi ô trược đầy kinh hãi,


Tiếp tục vai trò chuyển thế vì lợi lạc của chúng sanh,


Vươn cao ngọn cờ chiến thắng Losang Tharpe Gyal Tsen Hiền Trí


Giải Thoát Chiến Thắng Phướng,


Thỉnh cầu đấng đại trì giới xứng với danh xưng.


Là Ngawang Hùng Biện Losang Gyalwa thứ hai,


Tenpe Gyal Tsen gìn giữ Chiến Thắng Phướng của Giáo Pháp hiển mật,


Bậc Hộ Pháp ban thịnh vượng cho chúng sanh bằng tuệ, tịnh và hiền,


Thỉnh cầu dưới chân sen Bậc Đạo Sư Tôn Quí.


Bậc đại hùng biện, kinh mật của Losang Gyalwa,


Thuyết và thực hành Phật Pháp Thupten, đóa sen huyền diệu,


Truyền bá chánh pháp khai tâm môn đồ, Toàn quyến thuộc hoan Hỷ Kunga,


Thỉnh cầu Bậc Đại Sư vô song, sáng ngời hơn cả ánh trăng rằm


khangser rinpoche



đệ tử Pháp Đăng kính dịch


khangser rinpoche giảng dạy cho một số phật tử tại một trung tam yên tĩnh




tsultim tharchin 2008 với sư chú Pháp Dũng
Thầy Tâm Hòa chùa Hoàng Pháp tại tu viện Sera mey tại miền năm nước Ấn










giới thiệu tổng quát về chương trình học tại tu viện sera



Trước chánh điện sera mey



Tu viện sera nằm ở miền nam Ấn Độ, thuộc tiểu bang kanataka, nơi có bốn tu sĩ tu người Việt Nam theo phật giáo Tây Tạng tại nơi này। Tu viện trong vị trí nằm trên một ngọn đồi và được xây dựng với các cơ sở hạ tầng đồ sộ theo nét kiến trúc truyền thống của người dân Tây Tạng. Tu viện xây dựng với quy lớn và khá công phu, bởi nơi đây là nơi tu học tu của hàng ngàn tu sĩ thuộc




म̣t trong những giáo phái lớn nhất của phật giáo Tây Tạng hiện nay। Nơi đây thường được người Tạng hiểu như là một trường đại học phật giáo chuyên nghiên cứu học và biện luận về triết lý phật học thâm sâu। Là nơi lưu trú của cả trăm vị lama, rinpoche tái sanh Tây Tạng.



Những học giả ngoại quốc đến nơi đây nghiên cứu gồm có nhiều chủng tộc khác nhau trên thế giới như người anh, pháp, mỹ, úc , mông cổ, hàn quốc, trung quốc, đài loan, việt nam, bhutan, nepal cũng như người dân bổn xứ nơi đây là người Ấn Độ.v..v.


Tấc cả những học giả muốn đến nơi đây tu học đều phải trở thành những tu sĩ trước đó dưới một sự giới thiệu của một vị lama tại nơi này và là điều tốt cho những ai muốn đến nơi này là những tu sĩ trẻ tuổi, thông minh. Bởi vì đến nơi đây học giả sẽ được chuyên nghiên và biện chứng trong một thời gian khá dài.



Khi đến nơi này học giả sẽ được học ngôn ngữ trong vài năm đầu có thể là hai năm, sau đó sẽ xin đi học biện luận hoặc được sự chỉ dẫn của sư phụ học giả nơi này, tiếp theo sẽ được nhập khóa học’’biện chứng luận học’’ với người Tây Tạng trong vòng mười sáu năm. Học trong mười sáu năm như thế trong mỗi năm học giả sẽ được lên lớp và đều thi cử mỗi năm, nếu học giả là một người thông minh học giỏi, để đỡ tốn thời gian học giả cũng có thể học nhảy lớp trong những năm đầu.



Khi học giả học đến năm thứ năm, thì sẽ có một cuộc thi. Nếu hành giả thi đủ số điểm thì sẽ được tu viện cấp cho một văn bằng, nếu thi không đủ điểm sẽ không có văn bằng. Đến năm thứ mười sáu sau khi thi xong hành giả sẽ nhận được một bằng tiến sĩ (yeshe) triết học phật giáo Tạng. Nhưng đây chỉ là bằng tiến sĩ nhỏ nhất học giả nhận được sau mười sáu năm nghiên cứu, hành giả sẽ ôn luyện và học thêm khoảng 7 năm, sau khi thi cử lúc này học giả mới nhận thêm được một văn bằng tiến sĩ nữa, con đường học hành của học giả đến đây kết thúc và tổng cộng hành giả phải lao vào con đường học hành trong suốt 23 năm không ngừng nghỉ cộng thêm với 2 năm học ngôn ngữ sẽ phải mất 25 năm cho một con đường.Việc học hành kết thúc, hành giả sẽ được phép và được chuyển đến mật viện của phái geluk pa, lúc này hành giả mới chính thức được dạy những pháp tu mật thừa, ở đây học giả sẽ trở thành một hành giả và sẽ được học và được truyền những pháp mật, quán tưởng, mật chú bí truyền từ những vị lama đắc đạo. Sau một năm hành giả sẽ được công nhân là yeshe ngalampa. Hành giả chính thức trở thành một vị thấy tâm linh. Lúc này học giả có thể đem phật pháp trở lại quê hương của chính học giả, hay làm theo những nguyện vọng chưa hoàn thành.Hoặc tiếp tục con đường tu luyện mật pháp hướng đến những quả vị cao trên con đường tâm linh bằng cách học giả tu hành nhập thất trong 3 năm 3 tháng 3 ngày 3 giờ theo truyền thống của người Tây Tạng trong một hang núi.



Mỗi tuần một ngày nghỉ



Mỗi tuần trong tu viện cũng có một ngày nghỉ (ngày thứ ba) trừ ngày này các thầy lama tại đây phải đi học lớp, các lama có thể không cần học bài hay có thể tự ôn bài hoặc xin ra chợ mua đồ nhưng mỗi lần ra chợ đều phải viết giấy xin phép. Gần tu viện sera còn có nhiều tu viện khác của nhiều các giáo phái khác như tu viện của phái nyinma cổ mật khoảng 4000 tăng sĩ, phái sakya, kagyu,.v..v.



Sinh hoạt ăn uống ở tu viện sera jey



Thức ăn hằng ngày ở tu viện không phong phú như ở Việt Nam, không như các tu viện khác theo truyền thống Tây Tạng tu viện chỉ tuyệt đối nấu đồ chay. Theo như được biết xứ Tây Tạng là một xứ tương đối khắc nghiệp quanh năm, trời rất lạnh và băng tuyết phủ đầy nó có cái lạnh thấu xương, ở đó chỉ có trâu (trâu wak) và dê là những con vật đã gắn bó với người dân Tây Tạng qua bao nhiêu thế kỷ nay và họ đã không có đủ diều kiện đẻ ăn chay. Xưa kia những nhà sư tu hành Tây Tạng trong những hang động họ thường dùng những sọ người đã chết để làm bình bát và thường ăn một loại bột gọi là samba, giống như bột ngũ cốt của ta họ trộn với nước trộn lên và ăn. Khi qua Ấn Độ họ đã áp dụng đến phương thức ăn chay của phật giáo đại thừa hiện nay. Còn nếu trong tu viện ai muốn ăn mặn họ có thể ra quán hoặc mua về nấu không ai cấm.



Hằng ngày thường nấu những món ăn giống nhau, Mỗi buổi ăn học giả phải tự mang bát và một cái ly lên khu vực ăn uống của tăng chúng, và ngồi vào một dãy hàng trong nhà ăn. Buổi sáng mỗi người sẽ được phát một bánh pa lê (làm bằng bột gạo) và một ly trà bơ hoặc trà sữa. Buổi trưa thường được ăn bánh pa lê ăn hoặc cơm với món ’’đan’’ (món đan được làm bằng đậu xanh hầm với một loại rau gần giống như rau cải), một trái chuối và một ly trà bơ hoặc một ly nước. Buổi chiều chư tăng thường ăn cơm với một loại thức ăn thập cẩm bao gồm khoai tây, cải trắng, nấm rơm hoặc ăn mì xào. Ngoài ra trong chùa còn có mở các quán ăn



tu sĩ tại sera



Tu viện sera chia làm hai khu sera jey và sare mey. Tại sera jey có khoảng 5000 tu sĩ, sera mey khoảng hơn 3000 tu sĩ. Có hai trường tiểu học và trung học trong tu viện, cũng được dạy về toán học, anh ngữ, tiếng trung.v.v.. Một tu sĩ 15 tuổi trở xuống có thể được chọn lựa học biện chứng phật học hoặc đi học văn hóa phổ thông ngay trong chùa sau đó mới học bắt dầu học biện chứng.



Giới thiệu về hardong khamsen trong khuôn viên tu viện sera



Hardong khamsen nằm trong khuôn viên tu viện sera thuộc sera jey. Hardong khamsen là khamsen của khangser rinpoche nơi đích thân ngài đã gởi hai tu sĩ Việt Nam đến và để học triết lý phật học Tây Tạng sera jey. Hardong khamsen có khoảng hơn 100 tu sĩ tại nơi này trong đó có 4 tu sĩ người Hàn Quốc cũng là học trò của khangser rinpoche, hơn 10 người mông cổ và một số người nepal, skim, ấn độ và đa số là người Tây Tạng. được biết chính phủ Mông Cổ đã bảo lãnh và tài trợ cho người dân nước họ khi đến tu viện sera tu học.



Hardong khamsen nằm trong vị trí giữa triền đồi, gồm có tăng xá và chánh điện. Trước tăng xá có hai sân cỏ và thêm vào những cây bàn thoáng mát. Mỗi phòng nơi đây có thể có hai người cùng ở chung một phòng hay một người. Hardong khamsen thuộc tiểu bang kanataka nơi có khí hậu quanh năm không quá nóng cũng không quá lạnh như một số tiểu ban khác, khí hậu ôn hòa quanh năm. Các vị tu sĩ ở đây rất siêng năng học, tại đây thường thì ban ngày không có điện, lúc vào đêm khoảng 8 giờ các lama đi học về thường ra trước sân tăng xá luôn có những trụ bóng điện sử dụng bằng năng lượng ánh sáng mặt trời, các vị học bài bằng cách đi qua đi lại và đọc thật to lên cho đến hơn 11 giờ đêm.